Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

loading...
Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
2.7 (54.29%) 14 votes

Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu – Bài làm 1

Bài thơ Việt Bắc là đỉnh cao của thơ tố Hữu và cũng là thành tựu xuất sắc của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Bài thơ ra đời nhân một sự kiện lịch sử: tháng 10 năm l954, những người kháng chiến rời căn cứ miền núi trở về miền xuôi. Từ điểm xuất phát ấy, bài thơ ngược về quá khứ để tưởng nhớ một thời cách mạng và kháng chiến gian khổ mà anh hùng, để nói lên nghĩa tình gắn bó thắm thiết với Việt Bắc, với Đảng và Bác Hồ, với đất nước và nhân dân – tất cả là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn để dân tộc ta vững vàng bước tiếp trên con đường cách mạng. Nội dung ấy được thể hiện bằng hình thức đậm tính dân tộc.Bài thơ rất tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu.

Loading...

Hoàn cảnh sáng tác tạo nên một sắc thái tâm trạng đặc biệt, đầy xúc động bâng khuâng: Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…. Đó là cuộc chia tay của những người từng sống gắn bó suốt mười lăm năm ấy, có biết bao kỉ niệm ân tình, từng sẻ chia mọi cay đắng ngọt bùi, nay cùng nhau gợi lại những hồi ức đẹp đẽ, khẳng định nghĩa tình thuỷ chung và hướng về tương lai tươi sáng. Chuyện ân tình cách mạng đã được Tố Hữu khéo léo thể hiện như tâm trạng của tình yêu lứa đôi.

Diễn biến tâm trạng như trong tình yêu lứa đôi được tổ chức theo lối đối đáp quen thuộc của ca dao, dân ca, bên hỏi, bên đáp, người bày tỏ tâm sự, người hô ứng, đồng vọng. Hỏi và đáp đều mở ra bao nhiêu kỉ niệm về một thời cách mạng và kháng chiến gian khổ mà anh hùng, mở ra bao nhiêu nỗi niềm nhớ thương. Thực ra, bên ngoài là đối đáp, còn bên trong là độc thoại, là sự biểu hiện tâm tư, tình cảm của chính nhà thơ, của những người tham gia kháng chiến.

Qua hồi tưởng của chủ thể trữ tình, cảnh và người Việt Bắc hiện lên thật đẹp. Nỗi nhớ thiết tha của người cán bộ sắp về xuôi đã khắc sâu thiên nhiên núi rừng Việt Bắc vời vẻ đẹp vừa hiện thực, vừa thơ mộng, thi vi, gợi rõ những nét riêng biệt, độc đáo, khác hẳn những miền quê khác của đất nước. Chỉ những người đã từng sổng Việt Bắc, coi Việt Bắc cũng là quê hương thân thiết của mình mới có nỗi nhớ thật da diết, những cảm nhận thật sâu sắc, thấm thía về ánh nắng ban chiều, ánh trăng buổi tối, những bản làng mờ trong sương sớm, những bếp lửa hồng trong đêm khuya, những núi rừng sông suối mang những cái tên thân thuộc – tất cả là khoảng thời gian và không gian lóng lánh kỷ niệm :

Nhớ gì như nhớ người yêu
………………….
Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.

Nhưng có lẽ đẹp nhất trong nỗi nhớ về Việt Bắc là sự hoà quyện thắm thiết giữa cảnh với người, là ấn tượng không thể phai mờ về những người dân Việt Bắc cần cù trong lao động, thuỷ chung trong nghĩa tình :

Ta về, mình có nhớ ta
……………………..
Nhớ ai Tiếng hất ân tình thuỷ chung

Có thể thấy thiên nhiên Việt Bắc hiện lên với bao vẻ đẹp thật đa dạng, phong phú, sinh động, thay đổi theo từng thời tiết, từng mùa.
Gắn bó với từng khung cảnh ấy là hình ảnh những con người bình thường người đi làm nương rẫy, người đan nón, người hái măng,… .Bằng những việc làm tưởng chừng nhỏ bé của mình, họ đã góp phần tạo nên sức mạnh vĩ đại của cuộc kháng chiến. Chính nghĩa tình của nhân dân với cán bộ, bộ đội, sự đồng cảm và san sẻ, cùng chung mọi gian khổ và niềm vui, cùng gánh vác mọi nhiệm vụ nặng nề, khó khăn,… tất cả càng làm Việt Bắc thêm ngời sáng trong tâm trí của nhà thơ. Việt Bắc – đó là hình ảnh những mái nhà “hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son”, là hình ảnh người mẹ trong cái “nắng cháy lưng- Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô”, là những tháng ngày đồng cam cộng khổ :

Thương nhau, chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng,…

Có thể nói, âm hưởng trữ tình vang vọng suốt bài thơ đã tạo nên khúc ca ngọt ngào, đằm thắm của tình đồng chí, nghĩa đồng bào, của tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước, yêu đời.

Loading...

Theo dòng hồi tưởng của chủ thể trữ tình, bài thơ dẫn người đọc vào khung cảnh Việt Bắc chiến đấu với không gian núi rừng rộng lớn, những hoạt động tấp nập, những hình ảnh hào hùng, những âm thanh sôi nổi, dồn dập, náo nức. Cách mạng và kháng chiến đã xua tan vẻ âm u, hiu hắt của núi rừng, đồng thời khơi dậy sức sống mạnh mẽ của thiên nhiên và con người Việt Bắc. Bài thơ tràn đầy âm hưởng anh hùng ca, mang dáng vẻ một sử thi hiện dại, bởi vì chỉ cần phác hoạ khung cảnh hùng tráng ở Việt Bắc, Tố Hữu đã cho thấy khí thế vô cùng mạnh mẽ của cả một dân tộc đứng lên chiến đấu vì Tổ quốc độc lập, tự do :

Những đường Việt Bắc của ta
…………………………….
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.

Dân tộc ấy đã vượt qua bao thiếu thốn, gian khổ, hi sinh để lập nên những kì tích, những chiến công gắn với những địa danh: Phủ Thông, đèo Giàng, sông Lô, phố Ràng, Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên,… Nhưng Tố Hữu không chỉ miêu tả khí thế hào hùng của cuộc kháng chiến mà còn đi sâu lí giải những cội nguồn sức mạnh đã dẫn tới chiến thắng. Đó là sức mạnh của lòng căm thù: Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai, sức mạnh của tình nghĩa thuỷ chung: Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, của sự hoà quyện gắn bó giữa con người với thiên nhiên – tất cả tạo thành hình ảnh đất nước đứng lên :

Nhớ khi giặc đến giặc lùng
…………………………
Đất trời ta cả chiến khu một lòng.

Đặc biệt, với những lời thơ trang trọng mà thiết tha, Tố Hữu đã nhấn mạnh, khẳng định Việt Bắc là quê hương của Cách mạng, là căn cứ địa vững chắc, là đầu não của cuộc kháng chiến, nơi hội tụ bao tình cảm, suy nghĩ, niềm tin và hi vọng của mọi người Việt Nam yêu nước. Trong những năm tháng đen tối trước Cách mạng, hình ảnh Việt Bắc hiện dần từ mờ xa (mưa nguồn suốt lũ, những mây cùng mù )đến xác định như một chiến khu kiên cường, nơi nuôi dưỡng bao sức mạnh đấu tranh, nơi khai sinh những địa danh sẽ mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc :

Mình về,còn nhờ núi non
………………………
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa.

Trong những ngày kháng chiến gian lao, Việt Bắc là nơi có Cụ Hồ sáng soi, có Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công. Để khẳng định niềm tin yêu của cả nước với Việt Bắc, Tố Hữu lại dùng những vần thơ rất mộc mạc, giản dị mà thắm thiết nghĩa tình :

Ở đâu đau đớn giống nòi
……………………….
Quê hương Cách mạng dựng nên Cộng hoà .

Nghệ thuật biểu hiện của bài thơ đậm đà tính dân tộc. Điểm đáng chú ý trước hết là Tố Hữu đã phát huy được nhiều thế mạnh của thể lục bát truyền thống. Cấu tứ của bài thơ là cấu tứ ca dao với hai nhân vật trữ tình là ta và mình, người ra đi và người ở lại hát đối đáp với nhau. Trong cuộc hát đối đáp chia tay lịch sử này, người ở lại lên tiếng trước, nhớ về một thời xa hơn, thời đấu tranh gian khổ trước Cách mạng, sau đó người ra đi nối tiếp nhớ lại kỉ niệm thời chín năm kháng chiến.

Nhà thơ rất chú ý sử dụng kiểu tiểu đối của ca dao, chẳng những có tác dụng nhấn mạnh ý mà còn tạo ra nhịp thuyên chuyển, cân xứng, hài hoà, làm cho lời thơ dễ nhớ, dễ thuộc, thấm sâu vào tâm tư:

Mình về rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng măng mai để già;

…Điều quân chiến dịch thu đông
Nông thôn phát động giao thông mở đường,…

Về ngôn ngữ thơ, Tố Hữu chú ý sử dụng lời ăn tiếng nói của nhân dân rất giản dị mộc mạc nhưng cũng rất sinh động để tái hiện lại một thời cách mạng và kháng chiến đầy gian khổ mà dạt dào tình nghĩa. Đó là thứ ngôn ngữ rất giàu hình ảnh cụ thể:

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày;
Nắng trưa rực rỡ sao tràng;…

và cũng là thứ ngôn ngữ rất giàu nhạc điệu:

Chày đêm nện cối đều đều suối xa;
Đêm đêm rầm rập như là đất rung;…

Đặc biệt, thơ Tố Hữu sử dụng rất nhuần nhuyễn phép trùng điệp của ngôn ngữ dân gian:

Mình về, mình có nhớ ta;
Mình về, có nhớ chiến khu;
Nhớ sao lớp học i tờ;
Nhớ sao ngày tháng cơ quan,;
Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều,…

tất cả tạo ra một giọng điệu trữ tình nghe thiết tha, êm ái, ngọt ngào như âm hưởng lời ru, đưa ta vào thế giới của kỉ niệm và tình nghĩa thuỷ chung.

Bài thơ là khúc ca ân nghĩa, là hồi tưởng đầy xúc động và ân tình của Tố Hữu về chặng đường mười lăm năm đã qua của đất nước (từ khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940 đến hoà bình lập lại năm 1954), từ đó mà hướng về tương lai tươi sáng, nhắc nhớ tâm nguyện thuỷ chung. Viết về nghĩa tình dân tộc và hướng về đồng bào mình, Tố Hữu đã phát huy được hình thức nghệ thuật mang tính dân tộc, trong đó nổi bật là cách sử dụng thể thơ lục bát và ngôn ngữ thơ đậm sắc thái dân gian. Có thể coi Việt Bắc là khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến mà cội nguồn sâu xa của nó là tình yêu quê hương đất nước, là niềm tự hào về sức mạnh của nhân dân, là truyền thống ân nghĩa, đạo lí thuỷ chung của dân tộc Việt Nam.

Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu – Bài làm 2

Những bài thơ lớn của Tố Hữu đều sáng tác vào những điểm mốc của lịch sử cách mạng Việt Nam. Bài thơ “Việt Bắc” – kiệt tác của Tố Hữu cúng được sáng tác trong một thời điểm trọng đại của đất nước. Năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, hoà bình được lập lại. Chủ tịch Hồ Chí Minh, trung ương Đảng, cán bộ, bộ đội rời Việt Bắc trở về Thủ đô Hà Nội. Trong không khí chia tay đầy nhớ thương lưu luyến giữa nhân dân Việt Bắc và những người cán bộ cách mạng, nhà thơ Tố Hữu đã sáng tác bài thơ “Việt Bắc”. Với tầm nhìn của một nhà thơ cách mạng, một nhà tư tưởng, Tố Hữu đã phản ánh sâu sắc hiện thực kháng chiến mười lăm năm của Việt Bắc và dự báo những diễn biến tư tưởng trong hoà bình.

Đoạn trích bài thơ “Việt Bắc” miêu tả cuộc chia li đầy thương nhớ lưu luyến giữa Việt Bắc và những người cán bộ kháng chiến và gợi lại những kỉ niệm kháng chiến anh hùng mà đầy tình nghĩa.

Tác giả đã chọn thể thơ lục bát và lối hát đối đáp như trong ca dao dân ca và hình tượng hoá Việt Bắc và những người cán bộ kháng chiến là Ta – Mình. Cuộc chia li giữa nhân dân Việt Bắc và những người chiến sĩ cách mạng như là cuộc chia tay của một đôi bạn tình đầy bịn rịn, nhớ nhung, lưu luyến.

Mở đầu là lời của Việt Bắc. Để cho Việt Bắc – người ở lại – mở lời trước là rất tế nhị, vì trong chia tay thì người ở lại thường không yên lòng đối với người ra đi

“Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”

Bài thơ “Việt Bắc” có hai giai điệu chính. Câu thơ mở đầu “Mình về mình có nhớ ta” là giai điệu chính thứ nhất. Câu thơ mới đọc thoáng qua tưởng không có gì nhưng sâu sắc lắm. Một trăm cặp tình nhân chia tay cũng đều nói lời này. Tố Hữu mượn màu sắc của tình yêu mà phô diễn tình cảm cách mạng.

Đại tư Mình và Ta đứng ở hai đầu câu thơ, đã thấy xa cách. Từ “nhớ” được điệp lại ba lần đã tạo ra âm hưởng chủ đạo của bài thơ: lưu luyến, nhớ thường, ân tình ân nghĩa.

Người về lặng đi trước những câu hỏi nặng tình nặng nghĩa của Việt Bắc:

“Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”
Việt Bắc lại hỏi:
“Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?”

Để cho Việt Bắc hỏi là một cách nhà thơ khơi gợi lại những ngày kháng chiến gian khổ. Chỉ vài hình ảnh “mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù” là khung cảnh rừng núi hiện lên ảm đạm trong những ngày đầu kháng chiến. Mình và Ta đã từng chịu chung gian khổ “miếng cơm chấm muối”, đã cùng chung lưng đấu cật để chống kẻ thù chung “mối thù nặng vai”.

Vẫn còn là lời hỏi của Việt Bắc, nhưng tứ thơ chuyển:

“Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già.
Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son”

Biện pháp tu từ nhân hoá “rừng núi nhớ ai” nói lên tình cảm thắm thiết của Việt Bắc với những người kháng chiến. Mình về thì núi rừng Việt Bắc trống vắng “Trám bùi để rụng, măng mai để già”. Quả trám (trám xanh và trám đen) và măng mai là hai món ăn thường nhật của bộ đội và cán bộ kháng chiến. Mượn cái thừa để nói cái thiếu, thật hay! Hình thức đối lập giữa cái bên ngoài (hắt hiu lau xám) và bên trong (đậm đà lòng son) biểu hiện chân thật cuộc sống lam lũ, nghèo đói của người dân Việt Bắc, nhưng trong lòng thì thuỷ chung son sắt với cách mạng.

Cuối lời Việt Bắc hỏi người về:

“Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?”

Giai điệu chính thứ hai của bài thơ xuất hiện: “Mình đi, mình có nhớ mình”. Nếu giai điệu một là đạo lí của dân tộc với tư tưởng ân nghĩa thì giai điệu hai là cách mạng. Việt Bắc nhắn nhủ với người về là chẳng những “nhớ ta” mà còn phải “nhớ mình’, nói theo ngôn từ của tình yêu thì chẳng những phải “nhớ em” mà còn phải “nhớ anh” nữa. Cái “anh” mà hồi ở với em. Mình đã sống với Ta mười lăm năm, tình nghĩa biết mấy, anh hùng biết mấy! Mình với Ta viết lên những trang sử oai hùng của dân tộc “Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa”. Bây giờ xa cách, Mình về thành thị, nhớ đừng thay lòng đổi dại với Ta, mà cũng đừng thay lòng đổi dạ với chính mình:

“Mình về thành thị xa xôi
Nhà cao, còn thấy núi đồi nữa chăng?
Phố đông, còn nhớ bản làng
Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng?”

Để cho Việt Bắc ướm hỏi dè chừng như vậy là một cách khéo léo nhà thơ Tố Hữu dự báo những diễn biến tư tưởng trong hoà bình.

“Mình đi, mình có nhớ mình”

Đó là câu thơ hay nhất của bài thơ “Việt Bắc” mà cũng là một sáng tạo tuyệt vời của Tố Hữu!

Đón hết những lời ân tình ân nghĩa của Việt Bắc, bây giờ người về mới mở lời. Lời người về cũng chí tình chí nghĩa:

“Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh,
Mình đi, mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu…”

Hai đại từ Ta – Mình cứ xoắn xuýt, quấn quýt “Ta với mình, mình với ta” thật là nồng nàn. Ý nghĩa lại không rạch ròi để rồi nhập lại làm một:

“Mình đi, mình lại nhớ mình”

(Trả lời cho câu hỏi: “Mình về mình có nhớ ta”)

Diễn ra ngôn ngữ của tình yêu là “Anh đi anh lại nhớ em”. Nỗi nhớ của người đi thật là dào dạt, nghĩa tình của người đi đối với Việt Bắc thật là bất tận “Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu”. Người đi trả lời như vậy hẳn làm yên lòng người ở lại – Việt Bắc.

Như vậy là biến tấu của giai điệu một đã hình thành và mở rộng đến vô cùng. Tất nhiên đấy chỉ là một thủ pháp để nhà thơ miêu tả mối quan hệ khăng khít giữa Việt Bắc và cách mạng, miêu tả lại bản anh hùng ca kháng chiến của quân dân Việt Bắc.

Để xua tan những hoài nghi của người ở lại, người về phải nói những lời thật nồng thắm, phải so sánh với những tình cảm cao quý nhất của con người:

“Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”

Từ “nhớ” được điệp lại trùng trùng và mỗi từ lại gợi lên không biết bao nhiêu kỉ niệm thân thương giữa Ta với Mình. Những chi tiết nhỏ nhặt đã được hồi tưởng (mà cái nhỏ trong tình yêu chính là cái lớn).

“Thương nhau, chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”

Con người Việt Bắc trong lòng người về mới đáng yêu đáng quý làm sao:

“Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô.”

Một tiếng mõ trâu giữa rừng chiều, một tiếng chày đêm ngoài suối âm vang mãi trong lòng người ra về:

“Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
Chày đêm nện cối đều đều suối xa…”

Nói gọn lại là người về nhớ thiên nhiên Việt Bắc tươi đẹp, thơ mộng hữu tình(1); nhớ con người Việt Bắc giản dị, tình nghĩa, thủy chung.

Từ giọng điệu anh hung ca. Cuộc kháng chiến anh hùng của Ta và Mình được tái hiện trong hòai niệm của người về:

“Nhớ khi giặc đến giặc lung
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây
Núi giăng thành lũy sắt dày
Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù.”

Thiên nhiên Việt Bắc như có linh hồn là nhờ tác giả sử dụng phép nhân hóa. Núi rừng Việt Bắc tươi đẹp đã trở thành lũy sắt bảo vệ và che chở cho bộ đội. “vây”, “đánh” quân thù. Mỗi một tên núi, tên sông, tên phố, tên bản là một chiến công lừng lẫy của quân dân Việt Bắc. Rồi những đêm hành quân, những đoàn dân công, những đòan xe vận tải tấp nập sôi động:

“Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.”

Tác giả lại chuyển sang giọng điệu thơ trang trọng, thiêng liêng để diễn tả nỗi nhớ của người về đối với Trung ương Chính phủ – Cụ Hồ. Và hình ảnh của Việt Bắc trong trí nhớ của người về là quê hương cách mạng, là căn cứ địa kháng chiến, lừ niềm tin là hi vọng của cả dân tộc.

Người về cũng không quên trả lời câu hỏi gay cấn của Việt Bắc:

“Mình về mình lại nhớ ta
Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào”
(Trả lời cho câu hỏi “Mình đi mình có nhớ mình”)

Nghĩa là người về muốn nhắn nhủ với Việt Bắc là dù xa cách dù về thành thị xa xôi thì người các bộ kháng chiến năm xưa vẫn giữ gìn và phát huy phẩm chất tốt đẹp của người cán bộ cách mạng.

Như vậy là với biến tấu của giai điệu hai, tác giả đã khép lại phần một của bài thơ”Việt Bắc”. Và chủ đề chung thủy – chung thủy với cách mạng của bài thơ “Việt Bắc” đã đạt đến độ sâu sắc ngay trong phần một này.

“Việt Bắc” là một kiệt tác của Tố Hữu mà cũng là kiệt tác của thơ ca cách mạng, thơ ca kháng chiến. Bài thơ thể hiện tài hoa nhiều mặt của nhà thơ Tố Hữu. Thể thơ lục bát được tác giả phô diễn những tình cảm, tư tưởng mới mà vẫn đậm đà bản sắc dân tộc. Lối hát đối đáp tạo ra giai điệu phong phú cho bài thơ. Nhiều biện pháp tu từ được tác giả vận dụng khéo léo. Ngôn ngữ trong sáng, nhuần nhị, và có nhiều nét cách tân(đặc biệt là hia đại từ Ta – Mình). Tiếng nói yêu thương – nét nổi bật trong phong cách thơ Tố Hữu – không có bài nào thấm thía hơn “Việt Bắc”. Bài thơ còn thể hiện tư tưởng mới mẻ với những dự báo sáng sưốt được biểu hiện bằng hình ảnh phong phú và tấu lên băng âm nhạc làm say mê lòng người.

Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu – Bài làm 3

Trong những năm kháng chiến chống Pháp khi mà cánh đồng văn chương Việt Nam đang được làn gió “Thơ mới” thổi qua thì Tố Hữu lại tìm về với những vần thơ truyền thống. Khi đọc “Việt Bắc” ấn tượng ban đầu mà người đọc dễ dàng nhận thấy là tính dân tộc, tính dân gian rất đậm đà của bài thơ.

Trong khi “Thơ mới’ đang chiếm ưu thế một cách tuyệt đối thì ta lại thấy xuất hiện trên thi đàn tập thơ “Từ ấy” nổi bật là bài “Việt Bắc” là đỉnh cao của sự tìm về cội nguồn văn thơ dân tộc. “Việt Bắc” là một trường ca tuyệt đẹp về cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc chống thực dân Pháp. Bài thơ ra đời và đi vào lòng người bằng giọng điệu ân tình thuỷ chung như ca dao, khắc hoạ sâu sắc nỗi niềm của người con rời ” thủ đô kháng chiến” mà trong thâm tâm đầy ắp kỷ niệm nhớ thương. Trong tâm trạng kẻ ở – người đi, hình bóng của núi rừng – con người Việt Bắc vẹn nguyên cùng ký ức với bao hình ảnh đơn sơ mà cảm động. Để hôm nay những câu thơ còn rung động lòng người với những sắc màu, âm thanh tươi rói hơi thở của núi rừng chiến khu, hơi ấm của người tình lan toả:

 ” Ta về, mình có nhớ ta 

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người. 

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi 

Đèo cao ắng ánh dao gài thắt lưng 

Ngày xuân mơ nở trắng rừng 

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang. 

Ve kêu rừng phách đổ vàng, 

Nhớ cô em gái hái măng một mình. 

Rừng thu trăng rọi hoà bình, 

Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.”

Đọc “Việt Bắc” ta thấy rằng việc tác giả chọn cho bài thơ thể lục bát, lối đối đáp với một cặp đại từ nhân xưng “mình – ta” là rất phù hợp và hiệu quả. Hẳn không ít người đọc thắc mắc trong ca dao, tục ngữ có rất nhiều cặp đại từ nhân xưng được dùng phổ biến như: “chàng-nàng”, “anh-em”, “ta-nàng”, “mình-ta”, vậy tại sao Tố Hữu lại chọn cho bài thơ cặp “mình-ta”. Ở đây dường như nhà thơ có ẩn ý. Mình là ta và ta cũng có thể là mình. Cặp đại từ nhân xưng này có khả năng bao quát hết những cặp còn lại. “Mình-ta” có thể hiểu là anh em, mẹ con, hai người đang yêu nhau hay xa hơn là mối quan hệ trừu tượng giữa con người với núi rừng Việt Bắc. Chỉ là một cặp đại từ nhân xưng thôi mà có thể nói đến nhiều khía cạnh tình cảm khác nhau. Tố Hữu quả là người biết vận dụng văn thơ truyền thống một cách tinh tế và điêu luyện đến khâm phục.

Cảm hứng chính trị xuyên suốt một đời thơ Tố Hữu. Với tâm tình lẽ sống của nhà thơ “Việt Bắc” là kết tinh của tình cảm riêng – chung. Hoà điệu tự nhiên của hai luồng tình cảm: dân tộc và cách mạng. Tiếng nói từ nhân vật trữ tình nhập vai cũng chính là những lời suy ngẫm, tình cảm của nhà thơ thật khó tách bạch chủ thể và nhân vật. Ở đó cái tôi gắn với phẩm chất và tình cảm dân tộc, tiếng nói riêng tư “mình-ta” đã nói hộ tấm lòng của nhân dân và những người con cách mạng. Chất tự sự trữ tình chính trị như những lời thầm thì tâm sự cùng mọi người thuyết phục lòng người. Nổi nhớ là cảm xúc chủ đạo của bài thơ, gắn với “mình – ta, ta – mình”, là cung bậc thiết tha của tình cảm, là miền ký ức không phai mờ của người ra đi. Nỗi nhớ ở đây mựơn nguyên màu sắc ca dao, là sự nối tiếp, là khía cạnh tinh vi trong mối quan hệ khắng khít: hoa – người. Quê hương hiện hình trong vẻ đẹp cụ thể: vẻ đẹp tinh tuý của thiên nhiên (hoa) hoà hợp với vẻ đẹp và sức sống của con người. Mỗi một hình ảnh “hoa cùng người” như đem lại ấn tượng riêng biệt về nét đẹp của núi rừng Việt Bắc. Sự nối tiếp, đan xen sắc màu làm nên mạch cảm xúc của đoạn thơ, nỗi nhớ qua từng câu thơ càng trở nên đậm đà, mãnh liệt và da diết hơn. Nhà thơ dường như hướng toàn bộ tâm tư, ngòi bút của mình về con người nơi đây với những phẩm chất bình thường mà vĩ đại.

Tố Hữu đã khéo léo vận dụng thành công đặc trưng tái hiện không gian vô cực của thi ca gói trọn bốn mùa Xuân-Hạ-Thu-Đông trong những sắc màu đẹp nhất, hài hoà nhất. Mỗi bức tranh gồm hai mảng: một mảng xa, một mảng gần. Mỗi bức đều có sự gắn bó giữa thiên nhiên với con người, sự gắn bó trong nỗi nhớ những hoa cùng người của nhà thơ:

” Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi 

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng “

Nét son của bức tranh núi rừng ở đây là màu đỏ tươi của hoa chuối khiến cho núi rừng đã xanh lại càng thêm xanh. Chấm phá của tranh thuỷ mặc điểm một sắc đỏ trong không gian xanh bao la, không gian mang sức sống mãnh liệt. Mùa đông trong câu thơ của Tố Hữu cũng lan toả hơi ấm mùa hè, không hề có cảm giác lạnh lẽo, bởi sắc đỏ của hoa chuối như phun trào từ giữa màu xanh của rừng. Bên cạnh nét đẹp của hoa là nét đẹp khoẻ khoắn của người. “Nắng ánh dao gài thắt lưng” là hình ảnh của người dân miền sơn cước. Cách doán dụ không phải tình cớ ngẫu nhiên mà chọn con dao đi rừng-vật bất ly thân của người miền núi-nét đặc trưng của cuộc sống Việt Bắc. Con người nổi bật trong không gian đèo cao, càng nổi bật trong ánh nắng, thành một điểm sáng giữa khung cảnh mùa đông mang trong mình nét hiên ngang hùng vĩ của núi rừng.

” Ngày xuân mơ nở trắng rừng 

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang “

Không gian mùa xuân bừng sáng trong sắc hoa mơ. Sức sống mùa xuân lan toả khắp núi rừng Việt Bắc. Giữa nền trắng hoa mơ nổi bật “người đan nón”. Nỗi nhớ ở đây cụ thể đến từng chi tiết “chuốt từng sợi giang”. Dường như đối với Tố Hữu bao nhiêu sợi giang là bấy nhiêu sợi nhớ. Nỗi nhớ cứ liên tiếp, đan xen vào nhau và kéo dài suốt bốn mùa trong năm. Trong tả cảnh không có một âm vang nào của nùi rừng nhưng vẻ đẹp của mùa xuân vẫn sinh động nhờ hoạt động của con người. Sợi nhớ, sợi thương đan dày trong tâm tưởng, con người đẹp tự nhiên trong những công việc tỉ mẩn hàng ngày.

” Ve kêu rừng phách đổ vàng 

Nhớ cô em gái hái măng một mình “

Không gian nỗi nhớ hình như rõ nét nhất, đậm đà nhất trong bức tranh này- nỗi nhớ mùa hạ. Và cũng đọng lại hình ảnh ngọt ngào thân thương nhất của “cô em gái hái măng”. Câu thơ tả cảnh giàu sức biểu cảm, tiếng ve ran gọi màu vàng tràn ngập không gian, không gian lung linh hơn khi sắc vàng đổ xuống. Ấn tượng màu vàng đẹp như bức vẽ tả thực vừa làm xao xuyến lòng người trong tiếng ve dóng dả gọi hè, như gọi cả màu vàng đất trời về phủ kín cánh rừng.

” Rừng thu trăng rọi hoà bình 

Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung “

Không gian chuyển về đêm như hoàn chỉnh bức tranh tuyệt mĩ của núi rừng Việt Bắc. Đêm thu và ánh trăng nhẹ nhàng như lan toả vào màu xanh của núi rừng. Vẻ đẹp của khu rừng dưới ánh trăng gợi lên sự huyền ảo, khung cảnh gợi hồn thơ. Nỗi nhớ cũng mênh mang như ánh trăng trở thành “tiếng hát ân tình thuỷ chung”. Nhớ không cụ thể một đối tượng nào. Chúng ta liên tưởng đến câu ca dao:

” Nhớ ai ra vào ngẩn ngơ 

Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai “

Tình người bâng khuâng trong câu thơ gợi cảm xúc đồng điệu giữa kẻ ở người đi. Đọng lại trong nỗi nhớ là “ân tình thuỷ chung” dào dạt. Đoạn thơ diễn tả nỗi nhớ gắn với hình ảnh của núi rừng và bốn mùa hoà chung sắc màu đa dạng làm nên vẻ hấp dẫn cho bức tranh phong cảnh trữ tình. Thời gian diễn tả tuần tự, nhưng không làm phai nỗi nhớ, mà thờ gian trôi đi càng làm nỗi nhớ thêm tha thiết,sâu lắng. mỗi mùa đến đều có một không gian đặc trưng và khi đi qua đều để lại một khoảnh khắc đẹp và đáng cất giữ trong tâm hồn – đó là khi nhà thơ bắt nhịp cùng không gian – cảnh vật. Đó là tình yêu đích thực, rung động chân thành của trái tim nhà thơ. Cũng là tấm lòng của những người con kháng chiến sâu nặng với “thủ đô kháng chiến”.

Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu – Bài làm 4

Bài thơ Việt Bắc chính là bản tình ca, ca ngợi những tình cảm cao quý, đẹp đẽ của những con người kháng chiến đôi với Việt Bắc, của Việt Bắc đối với cách mạng mà cội nguồn sầu xa của nó chính là tình yêu quê hương đất nước, là truyền thống ân nghĩa, là đạo lí thủy chung của dân tộc.

 Bao trùm lên Việt Bắc đó là một nỗi nhớ da diết, sâu nặng.

Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Lời thơ mở đầu sặc mùi ca dao, với kết cấu mình – ta, câu thơ ngỡ như một lời nhắn gửi thâm đẫm tình nghĩa thủy chung đôi lứa. “Mình về mình có nhớ ta”, trước hết là lời ướm hỏi về nỗi nhớ của “ta” đối với “mình”, tức của người ở lại đối với người ra đi. Thực chất, người ở lại không có ý định hỏi mà chỉ muôn nhắc lại những kỷ niệm buồn vui, gian khổ trong suốt mười lăm năm mà người về xuôi từng gắn bó. Mười lăm năm gắn bó với mảnh đất Việt Bắc thân yêu, với con người Việt Bắc nhân hậu, nồng ấm thì không dễ mây ai lại quên đi được. Đã như thế vậy sao lại còn phải hỏi? Hỏi để nhắn nhủ, để khắc sâu, để nhớ mãi cái “mặn nồng thiết tha”, chia ngọt xẻ bùi trong suốt mười lăm năm dài đằng đẵng. Kỷ niệm được gợi lại một cách dồn dập từ phía người tiễn đưa.

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn

Câu thơ làm bật lên nguồn gốc của từng kỷ niệm xưa của những ân tình cũ. Núi phải có cây, sông phải có nguồn, người phải có tổ có tông và phải chăng đấy không phải là lời hỏi nữa mà là lời nhắn gửi về sự thủy chung, về đạo lí làm người, đạo lí dân tộc. Lắng lại trong những câu thơ đầu là một tiếng hát được cất lên thiết tha, đằm thắm, chan chứa bao tình cảm yêu thương trìu mến.

Tiếng ai tha thiết hèn cồn

Bâng khuâng trong dạ hồn chồn bước đi.

Tiếng hát từ xa vọng lại như níu giữ chân người với bao lưu luyến bịn rịn. Giây phút chia lìa diễn ra ngập ngừng giữa kẻ ở người đi.

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.

Với biện pháp tu từ hoán dụ, tác giả đã gợi lên một hình ảnh sắc nét về người dân miền núi. “Áo chàm” là một trong những trang phục quen thuộc của người Việt Bắc. Chiếc áo ây gợi sự giản dị, mộc mạc, chân chất mà bền chặt của người miền núi. Sự xuất hiện của chiếc áo chàm trong buổi tiễn đưa cũng chính là sự hiện diện của những tấm lòng, của những trái tim, và của cả hương hoa núi rừng – chât liệu đã dệt nên chiếc áo đơn sơ, mộc mạc mà như có hồn người. Biết bao điều muốn nói được dồn nén trong câu thơ: “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”. Câu thơ với cách ngắt nhịp lạ lùng được tách ra làm hai vế (Cầm tay nhau / biết nói gì hôm nay) tạo thành một khoảng lặng khiến cuộc chia li như diễn ra chậm lại. Tứ thơ gợi cho ta liên tưởng tới hình ảnh hai con người đứng như thế trong phút cuối chia tay mà không trao cho nhau được lời nào trong vô vàn lời muốn nói. Nhưng nói làm sao hết được kỷ niệm của mười lăm năm đã qua, nói làm sao được khi lòng quá nghẹn ngào xúc động. Và tất cả, tất cả đành gửi lại trong vòng tay ấm áp tình người.

Người ra đi nghẹn lời vì quá xúc động. Tiếp sau tâm trạng ấy của người đi là những câu hỏi day dứt khôn nguôi trong lòng người ỏ lại.

Mình đi, có nhớ những ngày

Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù

Minh về có nhớ chiến khu

Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai?

Mình về rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng măng mai để già

Mình đi có nhớ những nhà

Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son

Mình về có nhớ núi non

Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh

Mình đi mình có nhớ mình

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa.

Phải nói rằng khi đọc tới những câu thơ này, người ta mới không còn nhầm tưởng đây là một bài thơ về tình yêu đôi lứa. Kết cấu mình – ta không phải dành “cho anh”, “cho em” cho người con trai hay người con gái mà cho một tình cảm cao cả hơn, lớn lao hơn đó chính là tình quân dân, tình yêu quê hương cách mạng, tình gắn bó giừa người miền ngược – miền xuôi, giữa thủ đô và Việt Bắc.

 

Đoạn thơ với một loạt câu hỏi dồn dập, thiết tha, người ở lại đã kể về những tháng ngày ồ chiến khu cùng đồng cam cộng khổ, cùng chung mối thù, cùng xẻ chia từng miếng cơm đắng chát nhưng đầy tình nghĩa. Người ở lại không chỉ gợi về những kỷ niệm của một thời kháng chiến đầy khó khăn gian khổ mà còn muôn diễn tả cho người ra đi hiểu được sự thiếu vắng của mình làm lòng người buồn bã, rừng núi cũng ngẩn ngơ. Người ra đi đã để lại một nỗi nhớ tràn ngập, mênh mông, lan tỏa khắp núi rừng Việt Bắc – cái nơi từng là chiếc nôi của cách mạng, là đầu não của cuộc kháng chiến. Sau những câu hỏi là lời đáp của người về xuôi.

Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

Mình đi mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu.

Bao nhiêu phân vân của người ở lại đã bị đánh tan bởi sự khẳng định tình cảm bền chặt, dài lâu của người ra đi. Tình cảm ấy được khắc sâu trong hình ảnh “ta vói mình, mình với ta”, thực chất thì “ta với mình tuy hai mà một”, vậy thì tình nghĩa của mình đối với ta nhiều như thế nào, tình nghĩa của ta đôi với mình cũng ăm ắp như thế ấy. Tình nghĩa ấy mãi mãi được khắc sâu, được ghi lòng tạc dạ như một lời thề đinh ninh không bao giờ thay đổi. Tình nghĩa ấy cũng dồi dào, mênh mông như những dòng nước chảy ra từ nguồn suối vô tận, và nếu như một mai kia nguồn có cạn thì tình nghĩa vẫn cứ đầy vơi, vẫn cứ mặn nồng, tha thiết.

Những người chiến sĩ ra đi lòng vẫn để lại cho quê hương Việt Bắc, cho nhân dân Việt Bắc một nỗi nhớ nặng sâu. Nỗi nhớ được ví với tâm trạng của đôi lứa yêu nhau sắp phải xa cách, và trong giây phút cuối của cuộc chia li đã thốt lên những lời đầy luyến nhớ với một tình cảm trong sáng, thiêng liêng:

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về

Nhớ từng rừng nứa bờ tre

Ngòi Thìa, sông Đáy, suối Lê vơi đẩy.

Nỗi nhớ được hiện hình lên cụ thế bằng một loạt hình ảnh: Trăng lên đầu núi gợi tình cảm thơ mộng, nhớ những buổi chiều nhạt nắng thiết tha, nhớ hơi ấm nồng nàn của cuộc sông tỏa ra từ những bếp lửa, nhớ từng rừng nứa bờ tre, từng con sông dòng suối.

Nhưng nỗi nhớ lắng sâu nhất, mang nhiều suy tưởng nhất là nỗi nhớ trong những tháng năm đã chia ngọt xẻ bùi.

Ta đi ta nhớ những ngày

Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi

Thương nhau chia củ sắn lùi

Bát cơm xẻ nửa, chăn sui đắp cùng.

Trong cuộc kháng chiến gian lao, nhân dân và chiến sĩ đã chia nhau bao nhọc nhằn, vất vả, khó khăn. Cuộc sông chiến đầu thiếu thốn đủ thứ, họ đã phải dành cho nhau từng miếng cơm manh áo, từng mảnh chăn trong những đêm trời buốt giá. Và đó chính là biểu hiện của truyền thống dân tộc, của tình cảm giai cấp, của tình đồng chí đồng đội, của tình quân dân cá nước mà sâu xa là tình yêu cách mạng, yêu độc lập, tự do.

Trong nỗi nhớ ấy có hình ảnh chịu thương chịu khó của người mẹ, có cả nỗ lực cố gắng của những lớp bình dân học vụ về đêm, có âm thanh tiếng chày đều đặn của những bàn tay miệt mài công việc.

Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô

Nhớ sao lớp học i tờ

Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan …

Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

Chày đêm nện cối đều đều suối xa.

Song tất cả những mệt nhọc, khó khăn gian khổ đều bị chìm lấp đi trong tiếng hát ca những con người luôn yêu đời, yêu sự sống, yêu sự hiến dâng. “Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo” tiếng hát vang dội cả núi rừng, tiếng hát át tiếng bom.

Đoạn thơ tiếp theo rạo rực một nỗi nhớ của người về xuôi.

Ta về, mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao cài thắt lưng

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan chuốt từng sợi giang

Ve kều rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu trăng rọi hòa hình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.

Chia tay với Việt Bắc, người ra đi không chỉ nhớ “người” mà còn nhớ cả “hoa”. Thiên nhiên Việt Bắc tươi đẹp và con người Việt Bắc đầy ắp nghĩa tình đã gợi cảm xúc nhớ thương tuôn trào trong lòng tác giả. Cảnh và người trong tám câu thơ quyện chặt vào nhau, tràn ngập ánh sáng đường nét và màu sắc tươi tắn. Mỗi hình ảnh của cảnh vật gợi nhớ một kỷ niệm đẹp đẽ khác nhau. Cái tài tình của nhà thơ là ở chỗ đã vẽ lên được một bức tranh thiên nhiên tươi sáng, ấm áp về cả bón mùa mà chỉ cần mây câu thơ ngắn ngủi. Cảnh sắc của vạn vật đều mang hơi thở ấm nóng của tình người vì vậy mà nó bỗng trở nên gần gũi thân thuộc với con người hơn, bớt đi biết bao cái vẻ hoang sơ hiu hắt của núi rừng vốn dĩ rất thâm u. Đọc những câu thơ trên của Tô' Hữu, ta như lạc vào một khu vườn sực nức mùi hương và ánh sáng. Cái “đỏ tươi” của hoa chuôi làm tan đi bao giá băng lạnh lẽo của mùa đông xứ Bắc. Màu trắng tràn ngập lan tỏa khắp núi rừng của hoa mơ tạo nên cái nhẹ nhàng, trong trẻo, thanh khiết mà tràn đầy sức sông của những ngày xuân. Tiếng ve vang lên làm náo nức, rộn rã cả một mùa hè chỉ có nắng và gió. Cuối cùng là mùa thu quyến rũ với ánh trăng dịu dàng tỏa sáng xuống núi rừng yên ả đầy huyền ảo và thơ mộng. Tâ't cả khung cảnh thiên nhiên đều được gắn với những hoạt động thiết thực của con người. Vì thế mà nỗi nhớ hướng về thiên nhiên Việt Bắc cũng chính là hướng về những con người lao động cần cù, thủy chung, son sắt, ân tình. Những câu thơ lục bát chan chứa phong vị ca dao trữ tình cứ gọi nhau tuôn chảy đã tạo nên một khúc hát ngọt ngào, êm dịu mà lắng sâu – khúc hát của kỷ niệm, của tình đời, tình người.

Con người gắn bó với thiên nhiên trong cuộc sông đời thường và gắn bó cả trong cuộc sông chiến đấu.

Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây

Núi giăng thành lũy sắt dày 

Rừng che bộ đội rừng vây quân thù.

Sự sống của cỏ cây núi rừng và sự sông của con người như bám chặt vào nhau. Con người cầm súng để bảo vệ quê hương, bảo vệ bản làng chòm xóm, bảo vệ cây và đâ't. Và chính những thứ đó đã tạo địa thế cho con người vững vàng chiến đấu. Sự đoàn kết ấy chính là biểu hiện sức mạnh của dân tộc, của đất nước, của Tể quốc giàu truyền thông cha anh. Qua mỗi ngôi nhà, qua mỗi nẻo đường, chúng ta đều bắt gặp một không khí kháng chiến sôi nổi.

Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay Nghìn đèm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.

Đoạn thơ tràn đầy âm hưởng anh hùng ca với một không khí mang đậm chất sử thi của thời đại – một thời đại “tất cả lẽn đường, tất cả thành chiến sĩ”. Ớ đây, yếu tô" hiện thực và yếu tô' cách mạng đã được kết hợp chặt chẽ, hài hòa trong hình ảnh thơ. Với nghệ thuật láy “rầm rập”, “điệp điệp”, “trùng trùng” đã diễn tả được sức mạnh của quân đội ta, và tiếng bước chân ấy vẫn vọng lại từng đêm, từng đêm. Đó chính là sức mạnh của cuộc chiến tranh nhân dân, sức mạnh của lòng yêu nước, của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của tinh thần đoàn kết cùng đứng lên đánh giặc. Sức mạnh ấy tạo nên một khí thế xung thiên động địa của cả một dân tộc quật cường.

Những niềm vui, những đau thương vất vả đều là câu chuyện của ngày hôm qua. Những kỉ niệm ấy sẽ còn đeo đuổi mãi trong lòng “mình” với “ta”. Kĩ niệm ấy bỗng trở thành nỗi nhớ trong phút giây chia tay, trở thành lời nhắn nhủ, biết ơn sâu sắc.

Ở đâu u ám quân thù

Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hổ sáng soi 

ơ đâu đau đớn giống nòi

Trông lèn Việt Bắc mà nuôi chí bền

Mười lăm năm ấy ai quên

Quê hương Cách mạng dựng lên Cộng hòa

Hình ảnh Việt Bắc – quê hương cách mạng với mười lăm năm nghĩa tình đã khắc ghi, hằn sâu trong tâm hồn, trong trái tim của kẻ ở, người đi, của nhân dân miền ngược và chiến sĩ miền xuôi.

Việt Bắc là một bài thơ đậm đà bản sắc dân tộc. Với lối kết cấu trữ tình của ca dao, bài thơ như dựng lên một câu chuyện tình yêu với đầy đủ cung bậc của nó. Câu chuyện tình ấy thực chất là tình nghĩa gắn bó thắm thiết giữa nhân dân Việt Bắc và những người chiến sĩ, vì thế nên chia li hôm nay không phải là mãi mãi mà để có một hôm sau vui vẻ hơn, tươi đẹp hơn. Và họ đã hứa hẹn sẽ gặp lại nhau giữa một ngày hội trong tương lai.

Cầm tay nhau hát vui chung

Hôm sau mình nhé hát cùng thủ đô.

Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu – Dàn ý

A. TỔNG

– “Việt Bắc” là tên gọi khu căn cứ địa cách mạng ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta. Tính từ khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940 cho tới chiến thắng Điện Biên Phủ, Việt Bắc là thủ đô của kháng chiến, của cách mạng được 15 năm. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết, miền Bắc được giải phóng, các cơ quan trung ương của Đảng và Chính phủ đã chuyển từ Việt Bắc về Hà Nội (10/1954).

– Bài thơ “Việt Bắc” được Tố Hữu sáng tác trong bối cảnh chia tay với Việt Bắc đầy lưu luyến như thế. Bài thơ dài 150 câu thơ lục bát. Những lời đối đáp mình – ta, ta – mình, kẻ ở – người đi, người dân căn cứ địa cách mạng – người kháng chiến trở về Hà Nội. Tình cảm chia tay ấy được diễn tả dưới hình thức đối đáp của nam nữ trong ca dao dân ca tình yêu, tạo nên chất trữ tình đằm thắm. Cấu tứ của bài thơ dựa trên sự đối đáp này cho thấy rõ một đặc trưng của thơ Tố Hữu – thơ trữ tình chính trị. Nhà thơ viết về một đề tài cách mạng khô khan, rất khó cho thơ nhưng đã chọn cách chuyển tải bằng hình thức đối đáp nam nữ nên tác phẩm vẫn cứ hấp dẫn. Hình thức đối đáp qua thể thơ lục bát nhuần nhuyễn, những cách nói của văn học dân gian tạo ấn tượng tính dân tộc sâu đậm của bài thơ.

B. PHÂN

1. Tâm trạng chia li:

– Bài thơ mở ra một cảnh chia tay với tâm trạng bâng khuâng, bồn chồn, bịn rịn, lưu luyến của kẻ ở người đi – hai người đã từng gắn bó sâu nặng bền lâu qua 15 năm. (dẫn chứng: khổ 1). Người ra đi cũng một tâm trạng ấy( dẫn chứng: khổ 2). Đối đáp trở thành một thủ pháp khơi gợi, bộc lộ tâm trạng và tạo ra hô ứng, đồng vọng trong tình cảm của người ở và người về.

– Người ở lại gợi kỉ niệm gắn bó, đầy ân tình. Cũng vẫn dưới dạng câu hỏi nhưng đã gợi cụ thể hơn về thời gian, không gian của những của những kỉ niệm (dẫn chứng: khổ 3)

-> Lời hỏi của Việt Bắc đã khơi dậy, làm tuôn trào cả một bầu kỉ niệm đầy tình nghĩa người ra đi, với bao nhiêu hình ảnh, sự việc chất chứa của một thời không thể quên. Nếu là lời hỏi chỉ nhằm khơi gợi, thì lời đáp lại dào dạt, dồn dập như một dòng cảm xúc tuôn trào.

2. Nỗi nhớ thiên nhiên, con người, cuộc sống Việt Bắc và những kỉ niệm về cuộc kháng chiến anh hùng.

– Bao trùm là nỗi nhớ da diết, mênh mang với nhiều sắc thái khác nhau (trong 90 câu có 35 từ “nhớ”).

– Trong hoài niệm bao trùm có 3 mảng thống nhất, hòa nhập, không tách rời, đó là nỗi nhớ thiên nhiên, nỗi nhớ con người, cuộc sống Việt Bắc và những kỉ niệm về cuộc kháng chiến anh hùng.

– Thiên nhiên Việt Bắc hiện lên với những vẻ đẹp đa dạng trong thời gian và không gian khác nhau, trong các thời tiết sương sớm, nắng chiều, trăng khuya, trong bốn mùa thay đổi và mùa nào cũng có những vẻ đẹp riêng.

+ Thiên nhiên thơ mộng:
“trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương,…bản khói cùng sương,…”

+ Thiên nhiên hùng tráng, lớn lao, vững chai cùng với con người trong cuộc chiến đấu “ Núi giăng thành lũy….chiến khu một lòng”.

– Nhớ thiên nhiên gắn liền với nỗi nhớ con người. Đó là hình ảnh con người với cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày, cũng như hoạt động trong kháng chiến đã làm cho thiên nhiên không còn vắng vẻ hiu quạnh, mà thêm tươi sáng, ấm áp, mạnh mẽ sức sống “Rừng xanh hoa chuối….ân tình thủy chung” (bình, phân tích cụ thể khổ thơ này).

– Cuộc sống con người:

+ Thanh bình êm ả (“Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều…suối xa”)

+ Nghèo khó cơ cực (“Bát cơm sẻ nửa…bắp ngô”)

+ Nghĩa tình của con người, sự san sẻ, cùng chung mọi gian khổ và niềm vui, cùng gánh vác nhiệm vụ.

– Nỗi nhớ về căn cứ địa Việt Bắc:

+ Việt Bắc là căn cứ địa cách mạng, là thủ đô kháng chiến. Ngày chia tay, người ở lại nhắc về những sự kiện nay đã thành kỉ niệm.
“ Mình về có nhớ núi non…mái đình, cây đa”.

– Người về, như để cam đoan lòng mình sẽ chẳng bao giờ phai mờ những kỉ niệm, cũng nhớ, đắm chìm vào mạch hồi tưởng về những tháng ngày chiến đấu gian khổ:
“Nhớ khi giặc đến ….quân thù”.

Đó còn là những chiến công hiển hách của quân dân ta trên vùng rừng núi Việt Bắc:
“Những đường Việt Bắc ….muôn tàn lửa bay”.

– Nỗi nhớ về Đảng, Chính phủ và Bác Hồ. Từ Việt Bắc, như từ trái tim, đầu não, các chủ trương đường lối của trung ương Đảng và Chính phủ tỏa đi khắp nước, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng:
“ Điều quân chiến dịch thu đông…các khu”

Việt Bắc là niềm hi vọng, niềm mong đợi của cả dân tộc vì nơi đây Bác Hồ và Chính phủ cách mạng đã sống, làm việc:
“Ở đâu u ám … mà nuôi chí bền”.

C. Hợp

– Nội dung: bài thơ là khúc hùng ca và cũng là khúc tình ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người Việt Bắc.

– Nghệ thuật: thể thơ lục bát, kiểu kết cấu đối đáp, ngôn ngữ đậm sắc thái dân gian, cách sử dụng các địa danh,..

=>Tính dân tộc hết sức đậm đà, thuần nhụy.

LIKE ỦNG HỘ TÁC GIẢ